Latest News

Được tạo bởi Blogger.
Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Kỹ năng làm văn nghị luận



RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN:



     1. Tích lũy kiến thức:
         1.1. Kiến thức phải đảm bảo lấy trong tác phẩm văn học, kiến thức phải chính xác, chọn lọc.
Nghị luận văn học là kiểu bài văn hướng tới các vấn đề đặt ra trong các tác phẩm văn học: nội dung, nghệ thuật, hoặc các khía cạnh khác như tình huống truyện, diễn biến tâm lí của nhân vật,... Cho nên người viết phải hiểu biết kĩ về tác phẩm văn học đó: từ tác giả, hoàn cảnh sáng tác,… đến nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
       1.2. Nguồn hình thành kiến thức:
Đối với các tác phẩm văn học được học trong chương trình. Hướng dẫn các em cách đọc hiểu văn bản. Hình thành kĩ năng đọc cho học sinh
+ Đọc thông suốt toàn văn bản để có ấn tượng toàn vẹn về văn bản. Phải đọc tiểu dẫn để biết được những tri thức thiết yếu về tác giả, tác phẩm. Yêu cầu phải nắm được cốt truyện, hệ thống các chi tiết có liên quan đến nhân vật chính. Cần chú ý đến mạch văn, chất văn của văn bản, phát hiện những điểm đặc sắc, thú vị......
+ Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật: Hình tượng trong văn bản văn học được xây dựng sáng tạo bằng nghệ thuật ngôn từ, qua chi tiết, cốt truyện, hình ảnh, tâm trạng....tùy thể loại mà khác nhau về ngôn từ. Đọc hiểu hình tượng văn học đòi hỏi người đọc phải nhập thân vào hình tượng, cụ thể hóa tình cảnh, để hiểu điều tác giả muốn nói.
+ Đọc hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả: Nhà văn sáng tác tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện tư tưởng, bộc lộ tình cảm không chỉ của cá nhân họ về cuộc đời, con người mà còn là của tầng lớp, giai cấp, thời đại mà các nhà văn như là một đại diện.
+ Đọc hiểu để thưởng thức văn học: người đọc tiếp nhận tư tưởng, tình cảm của người viết gửi gắm vào ngôn từ, hình tượng đó, tìm ra tầng hàm nghĩa, nhận ra tín hiệu mà người viết kí thác điều muốn nói, quan niệm về nhân sinh, hoài bão, ước mơ..... giúp cho người đọc hiểu về thời đại, hiểu đời, hiểu mình, chia sẻ với sự xúc động, niềm say mê.... của tác giả.
1.3. Khuyến khích học sinh khi đọc phải có thói quen ghi chép.
Ví dụ: Sau khi đọc xong một tác phẩm truyện, học sinh có thể ghi chép:
- Tóm tắt tác phẩm. Những chi tiết, hình ảnh chọn lọc. Những câu văn hay, những hình ảnh đẹp, những câu nói "có cánh" của nhân vật. Biết đánh giá tác phẩm.
- Ghi lại những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của bản thân sau khi đọc về tác phẩm, về nhân vật hoặc một chi tiết mà bản thân tâm đắc nhất trong tác phẩm.

      2. Phân biệt các dạng đề:
                   Phân biệt đề được xem là khâu đầu tiên, có vai trò quyết định cho người làm bài. Đề bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện có rất nhiều dạng, nhưng chủ yếu thường  gặp các dạng đề  cơ bản sau:
   - Dạng đề I: Suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật, về tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, về tác phẩm là nghiêng về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm
Ví dụ
 Đề: Cảm nhận của anh /chị về hình tượng cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, năm 2008)
   

- Dạng đề II: Phân tích nhân vật, phân tích tác phẩm hay một khía cạnh về nhân vật, về tác phẩm là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Ví dụ
+ Đề: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, năm 2008)

- Dạng đề III: Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề,     GV phải biết tích hợp các kiến thức chương trình để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này cho HS.
Ví dụ Đề: Phân tích và so sánh tính cách nhân vật Việt và Chiến, để làm rõ sự tiếp nối truyền thống gia đình của những người con trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi (phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai, NXB Giáo dục năm 2008.
Từ việc phân biệt các dạng đề nêu trên, GV giúp HS nhận thức được tầm quan trọng của việc phân tích, tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác mỗi khi làm bài.

       3. Các bước rèn kỹ năng làm văn nghị luận về tác phẩm truyện:
          
  Bước 1: Rèn kỹ năng tìm hiểu đề:
Đây là thao tác được thực hiện đầu tiên khi làm bài văn nghị luận. Để thực hiện tốt được thao tác này học sinh cần đọc kỹ đề, tìm và gạch chân các cụm từ quan trọng. Học sinh phải xác định đầy đủ, chính xác các yêu cầu sau:
            * Xác định yêu cầu về nội dung: Học sinh thường không khó khăn khi xác định nội dung của đề, bởi vì các đề nghị luận văn học thường rõ ràng, mạch lạc đọc kỹ có thể nhận biết được ngay.
            Ví dụ: Anh (chị) hãy phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài.
            Tuy nhiên cũng có những đề khó hơn đòi hỏi học sinh phải phân tích các ý kiến, nhận định......
            Ví dụ:
            Đề bài: Nhà văn Kim Lân có lần đã kể lại tác phẩm Vợ nhặt của ông thực ra là một chương đã được viết lại của truyện dài Xóm ngụ cư. Ý của truyện là: "Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái ảm đạm để mà vui mà hi vọng".
            Anh (chị) hãy làm rõ ý kiến trên thông qua việc phân tích truyện ngắn Vợ nhặt.
            So với các đề trên, đề này yêu cầu khó hơn, phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ nhận định về chính tác phẩm đó. Đề bài không phải là phân tích đơn thuần mà là phân tích theo định hướng có sẵn: "Trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào, người dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái ảm đạm để mà vui, mà hi vọng". Ý kiến được dẫn trong đề bài chính là giá trị nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm.
            * Xác định yêu cầu về hình thức:
Ở thao tác này học sinh còn lúng túng. Nhưng sau một vài lần định hướng học sinh có thể xác định được ngay kiểu bài nghị luận
            * Xác định yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Việc tìm hiểu đề rất quan trọng, giáo viên cần tạo thói quen cho học sinh cần phải tìm hiểu đề trước khi lập dàn ý và viết bài.

            Bước 2: Rèn kĩ năng tìm ý, lập dàn ý:
- Hướng dẫn học sinh tìm ý:
Muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, GV phải hướng HS đọc kĩ tác phẩm để nắm cốt truyện, chủ đề, các ý chính, các chi tiết tiêu biểu của từng ý, các dẫn chứng thuyết phục…Không đọc kĩ tác phẩm, HS khó lòng nắm được ý đồ của tác giả, dễ dàng bỏ qua những điểm đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm; từ đó phân tích hời hợt, đánh giá chung chung.
- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:
GV có thể hướng dẫn HS sắp xếp các ý theo trình tự nhất định, ví dụ đi từ: nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân; cũng có thể  sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệ thuật và  nêu nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân. Cũng có khi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định nào.
Thông thường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện thường theo một trình tự như sau:
   -Mở bài:
+ Lời dẫn dắt,
+ Giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm,
+ Khái quát: nội dung, nghệ thuật, tư tưởng của tác phẩm,
+ Khái quát ý kiến, tình cảm của bản thân đối với tác phẩm.
   - Thân bài:
   Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm theo một trình tự nhất định, (phân tích, giải thích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực, trong tác phẩm và những tác phẩm khác).
   - Kết bài:
+ Khái quát lại nội dung, nghệ thuật, các giá trị của tác phẩm  ở mức cao hơn phần mở bài; qua đó nêu nhận định, đánh giá chung về tác phẩm.
+ Nêu nhận xét tiêu biểu của những người nổi tiếng về tác phẩm (nếu có)
+ Liên hệ bản thân…
   Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý, giáo viên đưa ra mô hình tổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:
             Kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi.(Phần truyện)
             Kiểu bài này có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu là phân tích khía cạnh của tác phẩm văn xuôi như: Phân tích nhân vật, phân tích giá trị nhân đạo, phân tích tình huống,....
            Giáo viên tập trung hướng dẫn và rèn kĩ năng cho học sinh cách làm các dạng bài này như sau:

            * Dạng bài: Phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học:
Mở bài:
            - Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
            - Giới thiệu nhân vật cần nghị luận.
Thân bài:
            - Luận điểm 1: Lai lịch, ngoại hình của nhân vật
            - Luận điểm 2: Tâm lý, Tính cách.
            - Luận điểm 3: Số phận (Chú ý sự thay đổi số phận)
            - Luận điểm 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Kết bài:
            - Thông qua việc xây dựng nhân vật, nhà văn muốn nói lên điều gì.
            - Tác phẩm có đóng góp gì cho nền văn học nước nhà.
(Lưu ý: Không phải nhân vật nào trong tác phẩm văn học cũng có lai lịch, ngoại hình nên khi phân tích học sinh phải linh hoạt).

            * Dạng bài: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học
Mở bài: Giới thiệu giá trị nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm văn học.
Thân bài:
            - Luận điểm 1: Khái quát giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học.
            - Luận điểm 2: Phân tích những biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm:
              + Tác phẩm thể hiện tình yêu thương với ai? Và thể hiện cụ thể như thế nào?
              + Tác phẩm đã tố cáo, lên án ai? Lên án, tố cáo như thế nào?
              + Tác phẩm đã phát hiện, trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của con người trong tác phẩm như thế nào?
            - Luận điểm 3: Đánh giá.
Kết bài:
            - Khẳng định giá trị nhân đạo trong tác phẩm.
            - Sự đóng góp cho tính đa dạng, sinh động của truyền thống nhân đạo.
               * Dạng bài: Phân tích tình huống truyện.
Mở bài: Giới thiệu tình huống truyện.
Thân bài:
              - Luận điểm 1: Giải thích: Tình huống truyện là gì?
              - Luận điểm 2: Phân tích tình huống truyện:
                        + Đó là tình huống nào?
                        + Phân tích những biểu hiện của tình huống truyện.
               - Luận điểm 3: Ý nghĩa của tình huống truyện.
   Kết bài: Khẳng định xây dựng tình huống truyện là sáng tạo NT đặc sắc của tác giả.

            *Dạng bài: Nghị luận về một nhóm tác phẩm, nhóm nhân vật:
            Dạng bài này không có tiết dạy lí thuyết, song trong thực tế ta hay gặp trong các đề thi học sinh giỏi, các kì thi vào đại học, cao đẳng qua các năm.
            Với dạng đề này giáo viên hướng dẫn các em nắm vững cách làm bài:
Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề cần nghị luận (Nhóm tác phẩm? Nhóm nhân vật?)
Thân bài:
- Luận điểm 1: Phân tích những nét chung (nhóm nhân vật, nhóm tác phẩm)
            - Luận điểm 2: Phân tích những nét riêng của tác giả, tác phẩm (hoặc tác giả, nhân vật).
            - Luận điểm 3: Đánh giá chung.
Kết bài:
            - Khẳng định vẻ đẹp (nhóm tác phẩm, nhóm nhân vật)
            - Đóng góp cho nền văn học.

Ví dụ Đề : Anh (chị) hãy phân tích hình tượng nhân vật hai chị em Chiến và Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.
Mở bài:
            - Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
            - Giới thiệu hai chị em Chiến và Việt.
Thân bài:
            Luận điểm 1: Nét chung của Chiến và Việt:
            - Chiến và Việt sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cách mạng.
            - Cùng chịu nhiều mất mát đau thương: chứng kiến cái chết của ba má.
            - Có chung mối thù với bọn xâm lược, cùng ý nghĩ: phải trả thù cho ba má. Có cùng nguyện vọng: Được cầm súng đánh giặc để trả thù cho ba má.
            - Tình yêu thương là vẻ đẹp tâm hồn của hai chị em. Tình cảm này được thể hiện sâu sắc và cảm động nhất trong cái đêm chị em giành nhau ghi tên tòng quân và sáng hôm sau trước khi lên đường nhập ngũ cùng khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm.
            Luận điểm 2: Nét riêng ở Chiến và Việt:
            - Nét riêng của Chiến: Hơn Việt một tuổi nhưng Chiến người lớn hơn hẳn:
                  + Chiến có thể bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình.
                  + Chiến không chỉ nói "in như má" mà còn học được cách nói "trọng trọng" của chú Năm.
                  + Biết nhường nhịn em: Tuy có lúc giành nhau với em: Tranh công bắt ếch, đánh tàu giặc, đi tòng quân,..... nhưng cuối cùng bao giờ cô cũng nhường em (trừ đi tòng quân)
=> Nguyễn Thi đã xây dựng nhân vật Chiến có cá tính, vừa phù hợp với lứa tuổi và giới tính. Chiến là nhân vật được hồi tưởng qua Việt nhưng gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
            - Nét riêng của Việt: Là cậu con trai mới lớn còn rất trẻ con, vô tư:
                + Hay tranh giành với chị
                + Đêm trước ngày lên đường tòng quân, chị Chiến bàn với em bằng những lời trang nghiêm thì Việt "lăn kềnh ra ván cười khì khì", lúc thì "chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay".
                + Vào bộ đội trong ba lô còn mang theo "một giàn ná thun".
               + Sự vô tư không ngăn cản được Việt trở thành anh hùng (Ngay từ bé Việt đã dám xông vào đá thằng đã giết cha mình. Khi trở thành chiến sĩ mặc dù chỉ có một mình với đôi mắt không còn nhìn thấy gì, hai bàn tay đau đớn Việt vẫn quyết tâm sống chết với quân thù).
=> Việt là thành công đáng kể trong cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Thi. Tuy còn hồn nhiên, nhỏ bé trước chị nhưng trước kẻ thù Việt lại vụt lớn lên chững chạc trong tư thế của một người chiến sĩ.
            Luận điểm 3: Đánh giá:
            - Nghệ thuật trần thuật qua dòng hồi tưởng của Việt đã khắc họa tính cách các nhân vật và miêu tả tâm lí sắc sảo. Ngôn ngữ góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.
            - Chiến và Việt là khúc sông sau trong dòng sông truyền thống gia đình, có thể sẽ đi xa hơn nữa.
            - Học sinh lựa chọn luận điểm thích hợp để viết.
            - GV hướng dẫn học sinh viết theo tiến trình:
            + Thứ nhất: chuyển luận điểm thành câu chủ đề.
            + Thứ hai: Phân tích các khía cạnh của luận điểm, viết các câu triển khai.

            + Thứ ba: Viết câu có tính chất kết đoạn.
Kỹ năng làm văn nghị luận
  • Title : Kỹ năng làm văn nghị luận
  • Posted by :
  • Date : 06:02
  • Labels :
  • Blogger Comments
  • Facebook Comments

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Top