1. Chọn thầy học, chọn sách đọc
Chỉ
những người có năng lực đặc biệt xuất sắc mới có khả năng tự học và đạt
hiệu quả như mong muốn. Hầu hết thí sinh dự thi đại học và cao đẳng
không có được năng lực ấy.
Vì vậy, các em cần sự hướng dẫn của những
cuốn sách tốt, những thầy cô giỏi, có trách nhiệm và giàu kinh nghiệm.
Hiện nay, tài liệu tham khảo và luyện thi tràn ngập thị trường. Để mua
được sách tốt, các em nên nhờ thầy cô có uy tín giới thiệu.
Khi đọc
tài liệu tham khảo, các em nên ghi chép, suy nghĩ, tán thành, hoặc phản
đối, bởi không phải mọi kiến thức trong sách vở đều đúng. Những thắc
mắc, nghi ngờ, nên ghi lại để hỏi cho rõ.
Tất nhiên, việc đọc tài
liệu tham khảo là cần thiết, nhưng không thể thay thế được việc nghe
giảng trên lớp. Nếu được thầy cô giỏi, tâm huyết giảng dạy và hướng dẫn,
các em sẽ thấy văn học hấp dẫn và thú vị hơn, hiểu vấn đề sâu sắc hơn…
Nếu
học ở các trung tâm luyện thi, các em nên tìm học những người có khả
năng trang bị một hệ thống phương pháp, kĩ năng, chứ không nên quá thiên
về chi tiết bài giảng
.2. Tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm
Các
em nên tham khảo đề thi, đáp án, biểu điểm chính thức và dự bị những
năm trước của Bộ GD&ĐT. Nó sẽ giúp học sinh có một định hướng rõ
ràng hơn trong việc ôn tập và làm bài thi.
Khi đọc những tài liệu
này, cần lưu ý đến điểm số dành cho từng ý; tại sao ý này điểm nhiều, ý
kia điểm ít; cũng như trình tự sắp xếp các ý, phạm vi dẫn chứng…
Các
em cũng nên học hỏi cách làm bài, kiến thức, cách mở bài, kết bài, triển
khai ý, cách chuyển ý, trình bày, diễn đạt… qua những bài văn đạt điểm
cao trong các kì thi đại học trước đó, đồng thời so sánh các bài viết
này với đáp án và biểu điểm của Bộ, xem bài làm thiếu ý nào, có ý nào
mới hơn, tại sao lại được điểm cao như thế…
Các em có thể tìm thấy các tài liệu này tại địa chỉ sau: http://ts.edu.net.vn của Bộ GD&ĐT.
3. Không học tủ, nhưng cần có trọng tâm
Có
thí sinh cho rằng năm trước, đề thi đã ra vào bài này, phần này, nên
năm sau sẽ không rơi vào bài đó nữa. Nhận thức như vậy là chủ quan, vừa
sai lầm, vừa thiển cận.
Nhiều em ngại khó, nên thường bỏ qua các bài
khó hoặc ít hấp dẫn như Người lái đò sông Đà, Các vị La Hán chùa Tây
phương…Nhưng đề thi vẫn có thể rơi vào các bài đó, mà khi đề đã ra, thì
dù không thích cũng phải làm.
Đề thi môn Văn thường kiểm tra toàn
diện kiến thức văn học sử (về giai đoạn văn học 1945 - 1975 và 5 tác
giả), cũng như tác phẩm văn học cả trước và sau Cách mạng, cả thơ và
văn, thậm chí cả kịch (như chương trình phân ban), đồng thời kiểm tra
toàn diện các kĩ năng tóm tắt, bình giảng, phân tích, so sánh, giải
thích, chứng minh...
Trước đây, dung lượng kiến thức văn học lãng mạn
và văn học hiện thực trước Cách mạng chỉ chiếm khoảng 30% (câu 3 điểm),
nhưng trong đề thi của khối D, M các năm 2002 và 2007 đã chiếm tới 50%
(câu 5 điểm).
Vì vậy, các em nên cố gắng ôn tập đều ở tất cả các
phần, các bài trong chương trình thi, không nên học tủ. Với cách ra đề
phân thành nhiều câu, nhiều phần như chủ trương của Bộ, thì học tủ là
rất nguy hiểm. Tuy vậy, các em vẫn nên ôn tập có trọng tâm, trọng điểm.
Bên
cạnh ôn tập kiến thức, cần rèn luyện kĩ năng làm các kiểu bài tóm tắt
về tác giả, tác phẩm và giai đoạn văn học; kĩ năng phân tích văn xuôi và
bình giảng thơ; kĩ năng phân tích đề, tìm ý, triển khai ý, mở bài, kết
bài, chuyển đoạn, trình bày, diễn đạt…
Cần bám sát chương trình của
Bộ và sách giáo khoa, vì đó là văn bản pháp quy của nhà nước, mà đề thi
không được nằm ngoài. Lưu ý rằng tất cả những gì có trong sách giáo khoa
đều có thể thi.
4. Khám phá tác phẩm trong các mối liên hệ
* Các mối liên hệ bên ngoài:
Tác
phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của
hoàn cảnh lịch sử, thời đại, là nơi ghi dấu ấn tâm hồn, tư tưởng, tài
năng và tâm huyết nhà văn trong một thời điểm nhất định. Muốn nắm bắt,
cần phải biết tác phẩm đó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nào.
Ở đây,
môn văn gián tiếp đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về lịch sử, nếu
không khó mà phân tích đúng. Vì vậy, các em cần nắm chắc hoàn cảnh ra
đời, ý nghĩa nhan đề và kết cấu cảm hứng để hiểu sâu và chính xác về nội
dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật tác phẩm, đồng thời qua tác phẩm
phải thấy được cả hiện thực thời đại mà nhà văn sống và sáng tác.
“Qua
nhà thơ, người ta tìm thấy tầm cỡ thời đại” (Jiri Worlker). Nếu không
ra đời vào mùa xuân năm 1948, thời điểm mà vấn đề “nhận đường” (Nguyễn
Đình Thi), vấn đề “lột xác” (Nguyễn Tuân) đang đặt ra một cách gay gắt
đối với các văn nghệ sĩ trí thức tiểu tư sản lớp trước, thì “Đôi mắt” sẽ
không phải là tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn đi theo
kháng chiến như Nam Cao, Tô Hoài.
Mặt khác, cần tránh xu hướng xã hội
học dung tục, chỉ tìm thấy ở văn chương những ý nghĩa xã hội và đạo
đức. Chẳng hạn, không nên hiểu dòng thơ “Sơn thôn thiếu nữ ma bao
túc”(Chiều tối - Hồ Chí Minh) là “tố cáo chế độ Quốc dân đảng bóc lột
sức lao động của trẻ em”, hoặc dòng thơ “Quần tinh ủng nguyệt thướng thu
san” (Giải đi sớm - Hồ Chí Minh ) là “nhân dân ủng hộ lãnh tụ” hay “bọn
lính áp giải vây quanh người tù cô đơn nơi đất khách” như có người từng
hiểu…
Để hiểu sâu sắc và chính xác về tác phẩm, cần đặt nó trong mối
liên hệ với quan điểm sáng tác, tư tưởng và phong cách nghệ thuật của
nhà văn. Chỉ khi liên hệ với quan niệm về người tài của Nguyễn Tuân, mới
hiểu được tại sao Huấn Cao và ông lái đò sông Đà lại được nhà văn ngợi
ca là những người tài hoa, nghệ sĩ hơn đời.
“Thơ duyên” chính là hiện
thân cho quan điểm “Để tâm hồn ràng buộc bởi muôn dây/ Hay chia sẻ bởi
trăm tình yêu mến” của Xuân Diệu, còn "Hai đứa trẻ" là sự thực thi thiên
chức của một nhà văn luôn khát khao “nâng đỡ cái tốt đẹp để trong đời
có nhiều công bằng hơn, yêu thương hơn”
Khi tìm hiểu một tác phẩm
cũng phải đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với giai đoạn văn học, trào
lưu văn học, thời kì hoặc phương pháp sáng tác. Chẳng hạn, khi tìm hiểu
các bài thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Thâm Tâm, cần đặt
chúng trong đặc điểm tư tưởng nghệ thuật của phong trào Thơ Mới lãng mạn
1932 - 1945.
Cần lưu ý các tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử
tù…được sáng tác theo phương pháp lãng mạn nhưng vẫn có một cảm quan
hiện thực sâu sắc.
* Các mối liên hệ bên trong:
Mỗi tác phẩm văn
chương thường có hai phần nổi bật: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ
thuật. Hai phần này thường thống nhất với nhau. Tìm hiểu nội dung là
nhằm chỉ ra tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống,
tìm hiểu hình thức là để chỉ ra tài năng nghệ thuật của nhà văn, cũng
như sự thống nhất và phù hợp của hình thức với nội dung.
Rất ít khi
đề thi yêu cầu trực tiếp là làm rõ hai mặt này. Tuy nhiên, trên thực tế,
để giải quyết vấn đề nào đó của đề thi, trong quá trình đi vào nội dung
nhất thiết phải trình bày nội dung đó được biểu đạt bằng những phương
tiện nghệ thuật nào, tìm sự hài hoà giữa nội dung và hình thức, giữa ý
nghĩa tư tưởng và giá trị nghệ thuật.
Nên từ hình thức tìm ra nội
dung và tránh diễn xuôi tác phẩm, văn thơ. Để diễn tả những cung bậc của
một tình yêu trong xa xôi cách trở với nỗi nhớ mong “cả trong mơ còn
thức”, với niềm lo nghĩ, với tình cảm thủy chung, tha thiết, chân thành
và cả niềm tin mãnh liệt vào sức mình trong việc vượt qua những xa xôi,
cách trở, mất còn… để đến với người mình yêu, Xuân Quỳnh đã mượn hình
ảnh sóng xa bờ, nhớ bờ, đồng thời sử dụng thể thơ 5 chữ với lối ngắt
nhịp cân đối, âm điệu hài hòa.
Nhịp điệu của bài thơ chính là nhịp điệu của một cõi lòng đang bị con sóng tình yêu khuấy động.
Thế
giới nghệ thuật của tác phẩm là thế giới hình tượng do nhà văn sáng tạo
ra, có quy luật riêng, thang bậc giá trị riêng, thời gian và không gian
nghệ thuật riêng.
Vì vậy khi tìm hiểu tác phẩm, không được đồng nhất
nó với thế giới thực tại ngoài đời, ngay cả khi nhân vật được xây dựng
từ một nguyên mẫu có thật như Hoàng đế An nam trong “Vi hành”, Hoàng
trong “Đôi mắt”, Đào trong “Mùa lạc”, Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”…
“Mọi
chân lí sẽ trở nên sai lầm, nếu chúng ta cứ xét đoán nó trên cơ sở của
những kinh nghiệm hàng ngày” (Ph. Ăngghen). Chân lí nghệ thuật trong tác
phẩm văn học cũng vậy.
Thế giới hình tượng trong tác phẩm được xây
dựng nên từ các chi tiết nghệ thuật. Tìm hiểu tác phẩm phải luôn xuất
phát từ chi tiết. Mỗi chi tiêt trong tác phẩm là một ô cửa mở ra cả một
thế giới, là những “chi tiết mang thai” (Hêghen), bởi nó có khả năng
sinh nở ra những ý nghĩa mới.
Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ
cũng được làm nên từ những chi tiết nhỏ. Vì vậy, về văn xuôi, các em
nhất định phải nắm được diễn biến câu chuyện, cách kể và giọng điệu của
nhà văn, nhân vật trung tâm và những chi tiết, sự kiện xoay quanh nhân
vật trung tâm đó.
Về thơ, phải nắm được cảm hứng chủ đạo của nhà thơ,
kết cấu cảm hứng của bài thơ, đoạn thơ, những chi tiết, hình ảnh mà nhà
thơ sử dụng để bộc lộ cảm xúc.
Về kịch, phải nắm được những mâu
thuẫn, xung đột, các lời thoại quan trong…Từ các chi tiết nghệ thuật ấy,
tìm ra tư tưởng và tình cảm mà nhà văn gửi gắm cũng như tài năng nghệ
thuật của nhà văn.
Chẳng hạn, “Đào đã đứng tựa cột bương, cả thân
người trên bị mái gianh che tối” là một chi tiết thể hiện cái nhìn tinh
tế và nhân ái của nhà văn. Nguyễn Khải đã dùng bóng tối của mái gianh để
che đi cái xấu xí, thua thiệt trong ngoại hình của Đào, đồng thời làm
nổi bật hơn vẻ đẹp của niềm khát khao hạnh phúc.
Không nên bỏ qua các
chi tiết quan trọng, cũng không nên quá sa đà vào phân tích chi tiết,
để tránh tình trạng chỉ thấy cây mà không thấy rừng.
Thực hiện phương
châm tăng cường chất văn trong việc dạy và học văn, cũng cần bám sát
văn bản ngôn từ và thế giới hình tượng của tác phẩm, chú ý giọng điệu,
kết cấu tác phẩm.
Chẳng hạn bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” của Hàn Mặc Tử
được kết cấu toàn bằng những lời ướm hỏi, ba khổ thơ là ba câu hỏi liên
tiếp, nên bài thơ sẽ chủ yếu thể hiện niềm băn khoăn day dứt của con
người, khát vọng chủ quan của nhà thơ chứ không chỉ là vấn đề “vịnh cảnh
hay tỏ tình”.5. Ôn tập theo vấn đề và nhóm tác phẩm
Những
tác phẩm trong nhóm thường phải có chung một hoặc một số điểm tương
đồng, chẳng hạn cùng chung đề tài (về đất nước, về người lính, về người
phụ nữ, về chủ nghĩa anh hùng cách mạng...), chung thể loại (truyện
ngắn, thơ...), chung giai đoạn sáng tác (từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945,
từ năm 1945 đến 1975)...
Ôn tập theo hướng này, các em sẽ có thể giải
quyết tốt được cả hai dạng: đề đơn (đề cập tới một tác phẩm) và đề tổng
hợp (đề cập tới nhiều tác phẩm).
Các em nên tập trung vào các nhóm tác phẩm sau đây:
5.1
Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về đất nước: Tuyên ngôn
độc lập, Bên kia sông Đuống, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình
Thi, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…
5.2 Nhóm các tác phẩm
thể hiện đề tài và cảm hứng về nhân dân: Tuyên ngôn độc lập, Đôi mắt,
Việt Bắc, Tiếng hát con tàu, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm…
5.3
Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân đạo: Hai đứa trẻ, Chí Phèo,
Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Mùa lạc, Các vị La Hán chùa Tây
phương…
5.4 Nhóm các tác phẩm thể hiện cảm hứng nhân văn: Chữ người tử tù, Người lái đò sông Đà…
5.5
Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về người lính: Tây Tiến,
Rừng xà nu, Mảnh trăng cuối rừng, Những đứa con trong gia đình…
Cần
lưu ý là nhóm các tác phẩm này thường thể hiện rất nổi bật cảm hứng về
chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn.
5.6 Nhóm các tác phẩm thể hiện bản lĩnh,
khát vọng và vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản trong những
hoàn cảnh thử thách khắc nghiệt của chốn ngục tù: Tâm tư trong tù, Mộ,
Tảo giải… hoặc khi mới được trả tự do: Tân xuất ngục, học đăng sơn.
5.7
Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng về thân phận, khát vọng
và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ: Đời thừa, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt,
Mùa lạc, Sóng…
5.8 Nhóm các tác phẩm thể hiện nỗi nhớ và thái độ ân
tình ân nghĩa với quá khứ: Tây Tiến, Bên kia sông Đuống, Việt Bắc, Kính
gửi cụ Nguyễn Du, Tiếng hát con tàu, Đất nước của Nguyễn Đình Thi.
5.9 Nhóm các tác phẩm thể hiện sức mạnh của tiếng cười châm biếm trào phúng: Vi hành và trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia.
5.10
Nhóm các tác phẩm thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn: Đời thừa,
Đôi mắt, Tiếng hát con tàu, Vũ Như Tô, Chiếc thuyền ngoài xa…
5.11
Nhóm các tác phẩm xây dựng thành công tình huống truyện độc đáo, giàu ý
nghĩa: Chữ người tử tù, Vi hành, Vợ nhặt, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc
thuyền ngoài xa…
5.12 Nhóm các tác phẩm thể hiện đề tài và cảm hứng
về Tây Bắc: Tây Tiến, Vợ chồng A Phủ, Tiếng hát con tàu, Mùa lạc, Người
lái đò sông Đà…
5.13 Nhóm các tác phẩm thể hiện tâm trạng và khát
vọng của cái Tôi Thơ Mới: Đây mùa thu tới, Vội vàng, Thơ duyên, Tràng
giang, Đây thôn Vĩ dạ, Tống biệt hành…
Ở các tác phẩm này cũng như
các tác phẩm văn học lãng mạn khác, cần lưu ý “nỗi đau khổ của người dân
mất nước, sự quằn quại của tâm hồn bị bóp nghẹt, lòng khao khát một
cuộc sống chân thật, tự do”( Trường Chinh – Bài nói tại Đại hội văn nghệ
toàn quốc lần thứ 2 năm 1957), và lòng yêu nước kín đáo, tinh thần dân
tộc thấm thía được biểu hiện qua lòng yêu tiếng mẹ đẻ:
“Họ dồn tình
yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ , là tấm
lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn
tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng”( Hoài Thanh - Thi nhân
Việt nam -1941) .
Sau khi tập hợp các tác phẩm thành từng nhóm, cần phải phát hiện được:
- Những nét độc đáo của tác phẩm này so với tác phẩm khác.
- Những nét chung của tác phẩm trong nhóm.
Chẳng
hạn, cùng viết về đất nước quê hương nhưng “Bên kia sông Đuống” của
Hoàng Cầm, “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn “Đất nước” của
Nguyễn Khoa Điềm vẫn có những khám phá, cảm nhận và thể hiện riêng, với
những sắc thái tình cảm riêng.
Hoàng Cầm đau đớn, nhớ tiếc, “xót xa
như rụng bàn tay” trước một miền quê cụ thể có vẻ đẹp cổ kính và truyền
thống văn hóa nghệ thuật lâu đời đang bị kẻ thù chiếm đóng, hủy hoại;
Nguyễn
Đình Thi tự hào, hãnh diện trước một đất nước mới hồi sinh tự do “tươi
thắm vô ngần”, sau khi trải qua những ngày nô lệ, đau thương;
Nguyễn
Khoa Điềm lại tự hào về một đất nước “của nhân dân, đất nước của ca dao
thần thoại”, một đất nước do những người “không ai nhớ mặt đặt tên” hóa
thân mà thành, do nhân dân vô danh gìn giữ, dựng xây và truyền lại cho
các thế hệ sau.
Một số đề chung cho các nhóm tác phẩm trên thường
được nêu ở những trang cuối cùng của sách giáo khoa cải cách giáo dục,
trong phần Hướng dẫn ôn tập cuối năm, hoặc phần bài tập nâng cao ở cuối
mỗi bài học trong sách giáo khoa phân ban.
6. Học văn theo ý, kết hợp tư duy và tái hiện
Bài
văn hay, đạt điểm cao, thậm chí điểm tuyệt đối là bài văn có một hệ
thống ý đầy đủ, sáng tạo, chặt chẽ, đáp ứng toàn diện yêu cầu của đề,
được thể hiện qua một hình thức trình bày và diễn đạt chính xác, trong
sáng, rõ ràng, tinh tế, khéo léo, có hình ảnh và cảm xúc.
Các giám
khảo chấm bài thi cũng phải so sánh giữa hệ thống ý của bài văn và hệ
thống ý mà Bộ GD&ĐT đề ra trong đáp án và biểu điểm chấm thi để cho
điểm. Vì vậy, khi học văn, các em cần tránh học vẹt, mà nên học theo ý
(theo luận điểm).
Cần nhớ số lượng ý lớn, ý nhỏ trong từng bài, từng
đề, rồi mới nhớ nội dung của từng ý, từng luận điểm. Học theo ý, mới có
thể dễ nhớ, nhớ lâu và sâu sắc.
Khi làm bài, các em nên diễn đạt lại
những ý đó theo cách của mình. Những bài văn mẫu, những bài giảng các
thầy, các cô cho ghi, dù hay đến đâu, cũng chỉ nên coi như 1 tài liệu
tham khảo cách diễn đạt. hoặc xem lại ý khi quên.
Nói như người xưa, ý là“bột”, bài văn là“hồ”, còn quá trình diễn đạt ý thành bài là “gột”. “Có bột mới gột nên hồ”.
Giống
như quá trình tư duy, quá trình nhận thức của con người, khi học và làm
văn, cũng cần qua 3 bước là HIỂU - NHỚ - VẬN DỤNG. Muốn vận dụng được
kiến thức đã học vào bài làm văn, cần phải nhớ và hiểu được những kiến
thức ấy.
Muốn nhớ được kiến thức thì trước hết phải hiểu nó. Muốn
hiểu thì phải chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, đọc tài liệu tham khảo, chăm
chú nghe giảng bằng tất cả niềm say mê, tâm huyết của mình, giống như
niềm đam mê của nhân vật Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao: “Hắn đọc, ngẫm
nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán!”…
Học văn
không phải là cắm đầu ghi cho đầy vở, mà là phải hiểu, nhớ và ghi lại
các ý hay, các luận điểm quan trọng. Nếu tìm được thầy dạy giỏi, hay,
hấp dẫn, tâm huyết…các em có thể nhớ được ít nhất 90% kiến thức ngay
trên lớp, về nhà chỉ cần học thêm khoảng 10% và xem lại những kiến thức
nắm chưa thật chắc.
Gặp những vấn đề chưa hiểu, các em cứ mạnh dạn hỏi, chắc chắn không thầy cô nào từ chối, dù họ có bận và mệt đến đâu.
Kiến
thức càng sắp xếp khoa học, chặt chẽ, rành mạch bao nhiêu, càng dễ nhớ
bấy nhiêu. Để tránh học vẹt, khi học văn, các em không nên cầm sách học
thuộc lòng, mà nên học theo phương pháp tái hiện.
Sau giờ học trên
lớp, hãy dành thời gian tĩnh tâm (khoảng 20 - 30 phút) để nhớ lại kiến
thức vừa học, nhất là hệ thống ý lớn, ý nhỏ. Sau đó mới mở sách ra kiểm
tra lại. ý nào mình chưa nhớ được thì cần phải học ngay.
Học theo
cách này, các em có thể học ở bất kì đâu, thậm chí không cần sách vở.
Nếu có bạn cùng học, hai người kiểm tra kiến thức cho nhau là tốt nhất.
Việc hệ thống kiến thức theo các bảng, theo các nhánh cây, các mô hình,
và việc liên hệ giữa văn học với cuộc sống, nhất là cuộc sống của bản
thân cũng giúp các em nhớ kiến thức lâu và sâu sắc.
Sau khi đã hiểu
và nhớ kiến thức, cần vận dụng lại kiến thức bằng cách làm bài tập, hoặc
giải đề thi thử, giải lại một đề đã thi… Dù có học văn - tiếng Việt 12
năm, nhưng cuối cùng của việc thi đại học, cao đẳng vẫn chỉ là viết 3
bài văn nhỏ theo yêu cầu của 1 đề thi trong vòng 180 phút. Vì vậy không
gì tốt hơn là tập viết bài theo yêu cầu của đề thi đại học. Các em có
thể tự xây dựng đáp án, biểu điểm, tự chấm bài cho nhau, hoặc nhờ ai đó
chấm.
Để dễ nhớ dẫn chứng và học văn đạt kết quả tốt, cần đọc tác
phẩm. Các em nên đọc trước khi bài được học trên lớp, khi chưa hề nghe
giảng, đọc bằng một văn bản hoàn toàn mới, chưa hề có ai đánh dấu.
Điều
này rất quan trọng, bởi những ấn tượng ban đầu của các em khi tiếp xúc
với tác phẩm sẽ được nhớ rất lâu, và giúp định hướng hiểu tác phẩm.
Các
em nên đọc tác phẩm và học văn vào sáng sớm, khi đọc, nên đánh dấu lại
những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ mà mình cho là quan trọng, hoặc thấy
hay, thấy có ý nghĩa và xúc động, đồng thời ghi nhớ luôn các chi tiết ấy
vào não để vận dụng lại vào bài viết sau này.
Nhìn chung, để học văn
đạt hiệu quả cao, các em phải học văn bằng chính cái đầu và trái tim
của mình, tự tìm một con đường đi cho riêng mình. Giáo viên là người
hướng dẫn, dìu dắt, đồng thời đánh giá, thẩm định kết quả, chứ không làm
thay, học thay, nghĩ hộ các em được
7: Tăng cường chiều sâu tư tưởng và lí luận
Để
tăng cường chiều sâu tư tưởng cho bài văn, cần chú trọng khám phá những
lớp ý nghĩa sâu sắc hơn, chìm lấp của văn bản nghệ thuật.
Mỗi tác
phẩm văn học là cả một hệ thống ý nghĩa sâu sắc, mà chỉ những người có
năng lực cảm thụ tinh tế, sắc sảo và vốn văn hóa sâu rộng mới có thể
nhận ra.
Người học văn cần hiểu hết bảy phần chìm của “Tảng băng
trôi” như O.Hemingway từng nói. Chẳng hạn, tuỳ bút “Người lái đò sông
Đà” không chỉ ca ngợi những “vẻ đẹp vàng mười nơi tâm hồn con người vùng
Tây bắc”, mà còn là bài ca về tư thế tự do và niềm tin vào khả năng
chiến thắng của Con Người trong cuộc đọ sức muôn thuở với thiên nhiên,
một thiên nhiên vừa là “cố nhân”, là bầu bạn, vừa như “kẻ thù số một”
của con người.
Tác phẩm cũng góp phần giải phóng ý thức của con người
khỏi “nỗi khiếp đảm vũ trụ, nỗi sợ thiên nhiên” như M.Bakhtin từng lưu
ý. Tương tự như thế, cần thấy được chiều sâu ý nghĩa của các tác phẩm
Ông già và biển cả, Hăm lét, Truyện Kiều…Đó là xu hướng học văn có chiều
sâu, rất được đề cao hiện nay.
Lí luận văn học tồn tại dưới hai hình thức cơ bản:
-
Lí luận nguyên lí là các khái niệm, nguyên lí, các vấn đề văn học được
khái quát, đúc rút từ thực tiễn sáng tác văn học và các tác phẩm văn
học. Người học văn cần nắm vững các nguyên lí lí luận văn học để việc
phân tích, cảm nhận văn học được tinh tế, sâu sắc, chính xác và đáng tin
cậy hơn.
- Lí luận vận dụng: Vận dụng các tri thức lí luận để khám
phá tác phẩm văn học, các vấn đề văn học. Đây là hướng tiếp cận văn học
rất có ưu thế của thi pháp học hiện đại.
Để bài viết có chiều sâu lí
luận, không nhất thiết cứ phải trích dẫn những lời lẽ của các nhà văn,
hay nhà lí luận. Chiều sâu lí luận của bài viết còn thể hiện ở sự am
hiểu của người viết về các đặc trưng và quy luật của văn học.
Chẳng
hạn, khi phân tích nghệ thuật tả tượng La Hán của Huy Cận, phải chú ý
đến giới hạn của chất liệu ngôn từ, để từ đó chỉ ra điểm mạnh của tài
năng Huy Cận.
Hay khi viết về sự thể hiện tư tưởng “chúng nó đã cầm
súng, mình phải cầm giáo” trong “Rừng xà nu”, chỉ cần nêu được luận
điểm: trong văn học, mọi tư tưởng dù lớn lao sâu sắc đến đâu cũng phải
hóa thân thành hình tượng nghệ thuật bão hòa cảm xúc.
Viết về cách sử
dụng chi tiết nghệ thuật của Nam Cao, Thạch Lam, Tô Hoài, mà nêu được
ý: Tài năng của một nhà văn lớn bao giờ cũng được làm nên từ những chi
tiết nhỏ… thì bài viết đã có chiều sâu lí luận hơn nhiều
.8. Tăng cường tính chính xác và tư duy khoa học
Chỉ
những người không hiểu gì về văn học và việc làm văn mới cho là văn
chương lai láng, mơ mộng, càng dài càng tốt, muốn viết thế nào thì viết,
thậm chí bịa ra văn.
Thực ra, một bài văn đạt điểm cao, là một bài
viết kết hợp được tư duy khoa học chặt chẽ (như của một nhà toán học)
với năng lực cảm thụ nghệ thuật tinh tế (như của một nhà phê bình tài
hoa).
Văn học là một môn khoa học về nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, cần
kết hợp vừa tăng cường chất văn vừa tăng cường tính chính xác trong bài
văn, nhất là trong việc trích dẫn kiến thức và dẫn chứng. Lời răn của cụ
Tú Xương ngày trước vẫn còn nguyên ý nghĩa: “Văn chương nào phải là đơn
thuốc/Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu!”
Bên cạnh đó, việc hiểu rõ,
nắm vững và sử dụng chính xác các khái niệm, các thuật ngữ văn học cũng
giúp tăng cường tính chính xác của bài văn. Các em không nên sử dụng
khái niệm, nếu như chưa hiểu rõ về nó.
Các em cần hiểu, phân biệt, và
sử dụng chính xác các khái niệm: nhân đạo, nhân văn, nhân bản, nhân ái.
Các em nên tìm hiểu, nắm vững và sử dụng thành thạo thêm các khái niệm:
lãng mạn, hiện thực, tính dân tộc, tình huống truyện, thể thơ lục bát,
hình thức lẩy “Kiều”, lối thơ vắt dòng, giọng điệu văn chương, nhân vật
trữ tình, tính sử thi..., cũng như phân biệt chính xác giữa tác giả lời
nói với chủ thể lời nói, cảm hứng sáng tác và cảm hứng tư tưởng, nhân
vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình…
9. Xây dựng đoạn văn chặt chẽ và chuyển ý khéo léoKhi
đã có “bột” (hệ thống luận điểm hay còn gọi là hệ thống ý trong bài
văn), các em cần “gột” (diễn đạt) nó thành “hồ” (bài văn). Mỗi ý lớn cần
được triển khai thành nhiều ý nhỏ, có phân tích, giảng giải, chứng
minh, và được tổ chức thành một đoạn văn, sao cho khi các đoạn văn kết
hợp với nhau sẽ tạo thành một bài viết hoàn chỉnh, đáp ứng toàn diện yêu
cầu của đề bài.
Vì vậy, các em nên tự rèn luyện kĩ năng viết 1 ý
thành đoạn văn, dưới nhiều hình thức như quy nạp, diễn dịch, tổng - phân
- hợp… Sự kết hợp luân phiên của các đoạn văn với các hình thức khác
nhau như thế, sẽ tránh cho bài văn khỏi sự lặp lại nhàm chán, đơn điệu.
Cũng
cần xác định mức độ trình bày đối với mỗi ý. Trong bài văn đạt điểm
cao, không phải mọi ý đều được trình bày với độ dài ngắn như nhau. Trái
lại, ý nào quan trọng, cần viết dài hơn, để triển khai kĩ lưỡng hơn; ý
nào phụ, có thể trình bày ngắn gọn, bằng cách lướt qua, hoặc nêu tóm
tắt.
Khi hết một ý, chuyển sang ý khác, cần có câu chuyển ý (chuyển
đoạn). Câu chuyển ý rất quan trọng, đảm bảo cho ý văn liền mạch, thống
nhất và nhuần nhuyễn, giống như các khớp xương nối các phần cơ thể với
nhau.
Câu chuyển ý có chức năng khép lại ý đã viết xong và mở ra một ý mới, nên cần diễn đạt khéo léo.
Chẳng
hạn, sau khi phân tích thân phận và cảnh ngộ khốn khổ của Mị, để chuyển
sang phân tích diễn biến tâm trạng và sức sống tiềm tàng của Mị khi mùa
xuân đến, có thể chuyển ý như sau:
“Một nghệ sĩ chân chính bao giờ
cũng là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sêkhốp). Tấm lòng nhân đạo
khiến Tô Hoài không thể nhẫn tâm dìm mãi cuộc đời Mị trong cái tăm tối,
khốn cùng của một kiếp trâu, kiếp ngựa, kiếp rùa…, mà còn thôi thúc nhà
văn thiết tha hướng về phía ánh sáng, phía sự sống để khơi lên niềm khát
khao ham sống, ham hạnh phúc, tự do, và để khẳng định sức sống tiềm
tàng nơi tâm hồn Mị.
10. Dẫn chứng hợp lý, bình dẫn chứng tinh tếBài
văn đạt điểm cao không chỉ cần đủ ý, với các đoạn văn được xây dựng
chặt chẽ, diễn đạt khéo léo…, mà còn cần có các dẫn chứng được trích dẫn
chính xác, tiêu biểu, có chọn lọc, giàu sức thuyết phục, góp phần làm
sáng tỏ và nổi bật hơn hệ thống ý của bài văn…
Không thể làm văn không có dẫn chứng, tuy vậy, không nên lạm dụng dẫn chứng, mà phải sử dụng một cách hợp lý, có chừng mực.
Bài
văn không phải là sự liệt kê các dẫn chứng, hay liệt kê các chi tiết,
hình ảnh từ tác phẩm. Cần tránh việc biến bài văn thành nơi kể lại tác
phẩm một cách dở hơn nhiều so với những gì tác giả từng viết trong tác
phẩm.
Trước khi nêu dẫn chứng, cần có lời dẫn, nghĩa là một lời giới
thiệu khéo léo về dẫn chứng. Lời dẫn này nên kết hợp với lời bình, với
cảm nhận của các em về dẫn chứng, để làm nổi bật ý của bài văn.
Chẳng
hạn, có thể giới thiệu dẫn chứng như sau: Mị nhận ra âm thanh tiếng sáo
gọi bạn yêu khi tiếng sáo còn ở rất xa: “Đầu núi đã lấp ló có tiếng ai
thổi sáo rủ bạn đi chơi”, nhưng cũng có thể giới thiệu hay hơn, khéo léo
và tinh tế hơn khi viết: Khi tiếng sáo gọi bạn yêu “lấp ló” ở “đầu núi”
cũng là khi khát vọng tình yêu, hạnh phúc, tự do đã “lấp ló” nơi tâm
hồn Mị: “Đầu núi đã lấp ló có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi”.
Cũng
có thể phân tích và bình giảng sau khi đã trích dẫn chứng, miễn là làm
nổi bật được ý văn cần thể hiện. Năng lực tư duy và cảm thụ văn học của
người viết, sự tinh tế, sâu sắc và điểm số của bài văn phụ thuộc rất
nhiều vào việc phân tích chi tiết, hình ảnh và cảm nhận dẫn chứng của
người viết.
Khi bình về dẫn chứng “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn
một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”, tùy theo năng lực mà người làm
văn có thể chỉ ra 1, 2, hoặc 3, 4 ý nghĩa sau:
- Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm làm dâu, Mị có ý định thắp sáng thêm căn phòng u tối của mình.
-
Người con dâu khốn khổ ấy như đã lấy chính ánh sáng của niềm khát khao
ham sống, khát khao hạnh phúc tình yêu vừa bừng lên trong tâm hồn mình
để tiếp thêm ánh sáng cho ngọn đèn le lói ở góc phòng.
- Đó cũng là hành động của sự tự thức tỉnh, khát khao thắp sáng cuộc đời mình.
-
Nó gợi nhớ chi tiết nhân vật Tràng giơ cái chai dầu con con lên khoe
với tất cả niềm hãnh diện, ngay giữa những ngày tối sầm lại vì đói khát
trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Hóa ra, ngay trong hoàn cảnh
khốn cùng nhất, những người nông dân như Mị, như Tràng vẫn khát khao
thắp lên ánh sáng của sự sống, của hi vọng, của niềm tin
11. Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc
Để
đạt điểm cao, bài văn phải được trình bày sáng sủa, sạch đẹp. Vì vậy,
trong quá trình triển khai ý làm bài, các em nên trình bày mỗi ý thành
một đoạn văn, được phân biệt với nhau bởi các dấu chấm xuống dòng.
Khi
xuống dòng, cũng nên viết chữ đầu tiên lùi vào 1/5 - 1/4 trang giấy,
tính từ lề. Cách trình bày như thế vừa giúp bài văn sạch đẹp hơn, gây
được thiện cảm của người chấm, các ý trong bài nổi bật hơn, người chấm
không thể bỏ sót ý, nên bài văn có lợi hơn về điểm số.
Cần hết sức
tránh việc dập xóa, để tránh cho bài làm không bị xấu và bẩn. Trong
trường hợp bất khả kháng, bắt buộc phải bỏ phần vừa viết, cách tốt nhất
và duy nhất là dùng thước kẻ gạch đè lên để bỏ đi, rồi viết tiếp. Chỉ
gạch một nét, với độ đậm mực vừa phải, không ấn bút vì dễ làm rách giấy,
hoặc làm xấu bài thi.
Các em tuyệt đối không được dùng bút xóa, vì
dễ bị nghi là đánh dấu bài. Cũng không nên gạch bằng tay, không nên dùng
các móc ngoặc để đánh dấu đoạn văn bỏ đi, và viết thêm chữ “sai” hay
“bỏ” ở bên cạnh như các em quen làm.
Diễn đạt là quá trình vô cùng
quan trọng, sánh ngang với việc tìm ý cho bài văn. Nếu “gột” không khéo,
không đúng, thì dù “bột” đã được chuẩn bị tốt đến đâu, cũng có nguy cơ
trở thành “bánh đúc”, thậm chí “cám lợn” chứ không phải thành “hồ” như
mong muốn.
Không có ý, thì không có gì để viết, nhưng có ý đầy trong
đầu, mà không biết cách nói ra, thì ý dù hay và sâu sắc đến đâu cũng trở
nên vô nghĩa. Diễn đạt là quá trình “gột” để “bột” thành “hồ”, quá
trình làm cho những ý tưởng trừu tượng, lớn lao biến thành lời văn cụ
thể, tràn đầy hình ảnh và cảm xúc, nghĩa là biến bộ xương ý tưởng thành
một cơ thể sống động, có da có thịt ,có sự sống, có linh hồn.
Do thói
quen xấu và do không được uốn nắn, sửa chữa từ các cấp dưới, nhiều thí
sinh dự thi đại học vẫn viết sai chính tả, vẫn viết câu văn què cụt,
không có chủ ngữ, vị ngữ, hoặc nhầm lẫn giữa các thành phần câu, nghĩa
là chưa nói thông viết thạo tiếng Việt. Đây là lỗi thường bị trừ điểm
rất nặng trong các bài văn.
Cũng cần tránh các kiểu diễn đạt mập mờ,
dễ gây hiểu nhầm cho người đọc, kiểu “Chị Dậu bảo với người nhà lí
trưởng: Mày đánh chồng bà đi, bà cho mày xem. Rồi chị cho chúng nó xem
thật!”.
Vì vậy, trước hết, các em cần phải rèn luyện cho mình một
cách diễn đạt đúng, nghĩa là nói và viết đúng ngữ pháp. Nếu chưa giỏi
diễn đạt, hãy viết các câu văn ngắn, giản dị, ít thành phần câu, tránh
cầu kì, rườm rà vì dễ mắc lỗi ngữ pháp.
Khi đã diễn đạt đúng, mới
tiến dần lên tập luyện để diễn đạt hay hơn, khéo léo, tinh tế hơn. Kĩ
năng diễn đạt này sẽ rất cần thiết cho các em trong cuộc sống hàng ngày,
trong quan hệ, giao tiếp, kể cả các giao dịch kinh tế sau này.
Ngồi
sau xe môtô của một chàng trai đang phóng rất nhanh trên đường, một cô
gái diễn đạt tầm thường sẽ nói: “Sao anh đi như thằng điên thế?”, một cô
gái diễn đạt khéo hơn có thể nói “Chậm thôi anh, đi nhanh thế, em sợ
lắm”, còn một cô gái luôn lo lắng cho chàng trai và diễn đạt tinh tế hơn
sẽ nói: “Chậm thôi anh, đi nhanh thế, nhỡ ra anh bị làm sao, thì em
sống làm sao nổi?”
Qua một ví dụ đời thường như thế, chắc các em đủ
hiểu về tầm quan trọng và hiệu quả của kĩ năng diễn đạt, cũng như ý
nghĩa của môn văn trong việc rèn luyện kĩ năng sống cho mỗi người. Giống
như mọi ngành nghệ thuật khác, văn học cũng hướng tới “phục vụ cho một
nghệ thuật cao quý nhất: nghệ thuật sống trên trái đất” (B.Brecht).
Để
diễn đạt hay, cần sử dụng linh hoạt các kiểu câu khi diễn đạt, sử dụng
linh hoạt các hình ảnh, các phép tu từ, chuyển nghĩa để lời văn có cảm
xúc và chất văn. Lời văn phải trau chuốt, uyển chuyển, có giọng điệu
riêng. Nhiều khi chỉ thay đi vài chữ là câu văn đã hay hơn, sâu sắc hơn.
Chẳng
hạn, thay cho cách viết “Bài thơ Các vị La Hán chùa Tây phương được in
trong tập Bài thơ cuộc đời của Huy Cận” , hãy viết “Bài thơ Các vị La
Hán chùa Tây phương là một trong những Bài thơ cuộc đời của Huy Cận”.
Cách viết thứ hai không chỉ nêu được xuất xứ mà còn đánh giá được tầm
vóc và vị trí của bài thơ đối với đời thơ Huy Cận.
Thay cho cách diễn
đạt “Sức sống của Mị hồi sinh mạnh mẽ khi mùa xuân đến”, hãy tìm một
cách diễn đạt có hình ảnh và cảm xúc hơn, chẳng hạn “Như một mầm cây ngủ
quên lâu ngày trong đất, gặp hơi ấm của mùa xuân, sức sống nơi tâm hồn
Mị bỗng cựa mình tỉnh giấc và vươn mình trỗi dậy”.
Các em nên học
cách diễn đạt của nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”. Nói
về chất cổ điển của “Tràng giang”, ông viết: “Huy Cận đã khơi lại cái
mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Diễn đạt đúng
ngữ pháp, khéo léo, tinh tế, có hình ảnh và cảm xúc sẽ giúp bài văn có
chất văn và đạt điểm cao.
Chữ viết đẹp, rành mạch, sáng sủa, đúng
chuẩn mực chính tả cũng là một lợi thế để bài văn có điểm cao hơn. Các
em nên rèn luyện chữ viết của mình, nếu không được đẹp, cũng cần phải
viết cho rõ ràng, ngay ngắn, đúng chính tả.
Tuyệt đối không được viết
tắt, viết thiếu nét, thiếu dấu, viết hoa tự do (chỉ viết hoa tên riêng,
hoặc sau khi chấm câu), viết ngọng (như nhầm lẫn giữa l và n, x và s,
ch và tr…).
Chỉ cần 5 lỗi chính tả hoặc 1 lỗi chính tả lặp lại 5 lần, bài làm có thể đã bị trừ mất 0,5 điểm.
12. Phân bố thời gian làm bài hợp lýTheo
yêu cầu của đề thi đại học, cao đẳng, cũng như thi tốt nghiệp hiện nay,
trong thời gian 180 phút, các em phải viết 3 bài văn nhỏ, đáp ứng được
đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và tinh tế yêu cầu của 3 câu hỏi trong đề
thi.
Trong thực tế, nhiều em có kiến thức tốt, vẫn không đủ thời gian
để làm bài. Vì vậy, việc sử dụng và phân bố thời gian làm bài thông
minh và hợp lý là điều có ý nghĩa rất quan trọng.
Các em nên tận dụng
thời gian làm bài ngay khi nhận được đề thi mà không nên chờ đến khi cỏ
trống tính thời gian làm bài, đồng thời phải tận dụng thời gian làm bài
đến tận phút cuối cùng. Chỉ cần bỏ phí khoảng 10 phút, có thể các em đã
nhường lại cơ hội vào đại học cho người khác.
Các em cần hết sức lưu
ý đến điểm số của từng câu (hoặc từng phần) được ghi trong đề thi, để
từ đó, chủ động phân chia thời lượng, giấy mực... cho từng câu một cách
hợp lí.
Tránh tình trạng đầu tư quá nhiều thời gian và sức lực cho
câu có điểm tối đa thấp. Cần tận dụng từng giây phút, tránh tình trạng
không đủ thời gian để làm bài.
Khi làm bài, câu I, thường 2 điểm, các
em chỉ được làm trong khoảng thời gian tối đa 36 phút, câu II, thường 5
điểm, làm trong khoảng thời gian 90 phút, câu IIIa và IIIb, thường 3
điểm làm trong khoảng thời gian 54 phút.
Nhưng tôi khuyên các em chỉ
nên làm câu I trong khoảng thời gian 20 phút, vì câu này thường đơn
giản, chỉ cần nắm chắc kiến thức cơ bản là có thể giải quyết đầy đủ và
đạt điểm tối đa. Số thời gian còn lại, nên dành thêm cho câu II, vì
trong thực tế, câu này thường khá khó và dài, phần lớn thí sinh không
thể làm trọn vẹn trong 90 phút.
Phần mở và kết bài cho từng câu cũng
cần được viết trong khoảng thời gian thật ngắn. Trong thực tế, nhiều thí
sinh ngồi cắn bút đến 15 - 20 phút, thậm chí nhiều hơn, vẫn chưa viết
xong mở bài, vậy thì đối với ngay cả câu 5 điểm (thời gian cho phép làm
bài là 90 phút), cũng làm sao đủ thời gian để viết mở bài và kết luận?
Các
em nên luyện tập để có thể mở bài, kết bài cho từng câu trong khoảng
thời gian từ 5 - 7 phút. Như thế mới có đủ thời gian để triển khai ý sâu
sắc và đầy đủ cho phần thân bài.
Cũng không nên viết nháp bài văn
rồi chép lại, vì như thế sẽ không bao giờ đủ thời gian. Các em chỉ nên
vạch ra các ý chính thông qua các gạch đầu dòng, hoặc theo hình nhánh
cây, và cân nhắc trình tự sắp xếp các ý cho chặt chẽ, rồi lựa chọn cách
diễn đạt và viết ngay thành lời văn vào giấy thi.
Trong trường hợp có
chỗ nào sai, nên dùng thước kẻ gạch đè lên để bỏ đi, rồi viết tiếp, mà
không nên thay giấy thi (nếu không phải là những dòng đầu tiên của bài
làm, hoặc của tờ giấy thi), vì việc điền lại các thông tin cá nhân trên
phách và chép lại phần bài đã làm sẽ mất rất nhiều thời gian.
Nên
dành khoảng 4 - 5 phút cuối cùng của 180 phút làm bài thi, để đọc lại
bài làm, rà soát các lỗi sai, nhất là lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp…, sau
đó hãy nộp bài.
13. Rèn luyện để tăng tốc độ viết
Như
các em đã thấy, dù cấu trúc như nhau, nhưng mức độ của đề thi đại học
khó hơn nhiều so với đề thi tốt nghiệp. Về cơ bản, bài văn thi đại học
có thể làm tương tự như bài thi tốt nghiệp, nhưng mức độ và chất lượng
phải cao hơn, kiến thức phải sâu hơn, tư duy chặt chẽ hơn và diễn đạt
cũng phải tinh tế, uyển chuyển hơn.
Mọi yêu cầu của đề đều cần giải
quyết trong vòng 180 phút, nên nhiều thí sinh không đủ thời gian để làm
bài. Mặt khác, đề thi cũng ngày một dài hơn.
Trước đây, câu 3 điểm
(làm trong 54 phút), thường chỉ yêu cầu bình giảng 4 dòng thơ, nhưng đề
thi khối C, năm 2007, yêu cầu bình giảng tới 10 dòng. Câu 3 điểm trong
đề khối D, năm 2007, trước đây thường được cho với yêu cầu 5 điểm (làm
trong 90 phút). Vì vậy việc tăng tốc độ viết để có đủ thời gian làm bài
là điều rất cần thiết.
Những thí sinh viết nhanh, viết đẹp… rõ ràng
có lợi thế hơn. Các em nên luyện tập ngón tay và khuỷu tay, để tránh bị
mỏi tay khi viết bài, đồng thời luyện viết thường xuyên để viết nhanh,
chữ viết rõ ràng, sạch đẹp hơn.
Các em có thể lấy 1 đề văn thi đại
học bất kì, trung thực và nghiêm túc làm bài trong 180 phút, không dùng
bất cứ tài liệu nào, tự kiểm tra xem khả năng làm bài và tốc độ viết của
mình đã hợp lí chưa, để có phương án điều chỉnh.
Cần lưu ý rằng,
điều kiện đầu tiên để tốc độ viết văn nhanh hơn là các em phải luôn làm
chủ kĩ năng và kiến thức, phải chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ kiến thức
trong đầu.
Trình bày những điều trên đây, chúng tôi hi vọng ít nhiều
giúp ích cho các em trong quá trình ôn tập và làm bài. Hãy luôn nhớ rằng
trên con đường thành công không có bước chân của kẻ lười biếng và “tất
cả những gì tốt đẹp nhất, chỉ có thể có được khi chúng ta chịu trả giá
bằng một nỗi đau khổ vĩ đại” (Côlin Măc Calâu).
Nếu kiên nhẫn rèn
luyện, nỗ lực học tập một cách thông minh và có phương pháp, chỉ cần một
thời gian ngắn, chắc chắn các em sẽ có bài văn đạt điểm cao trong kì
thi tuyển sinh đại học, cao đẳng
Tham khảo học văn bằng sơ đồ tư duy : http://hocvalam.vn/news/Hoc-Van-bang-so-do-tu-duy-321
Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

0 nhận xét:
Đăng nhận xét